Chiến lược Marketing “kẻ đối lập”

 
Trong marketing, không có gì khó khăn hơn là phải cạnh tranh với một đối thủ hùng mạnh đang chiếm ưu thế tuyệt đối trên thị trường với thị phần áp đảo. Chiến lược của các doanh nghiệp cạnh tranh thường sẽ phụ thuộc vào chiến lược của “market leader” (người lãnh đạo thị trường) này. Có một chiến lược đã được sử dụng rất thành công: Trở thành kẻ đối lập.

Ví dụ nổi tiếng nhất cho việc áp dụng chiến lược marketing này là nhãn hiệu Pepsi-Cola. Làm thế nào để Pepsi có thể cạnh tranh được với Coke?

Coca-Cola được công nhận rộng rãi bởi người tiêu dùng là thứ cola “đích thực”, là nhãn hiệu nguyên bản và thống trị thị trường trong thời gian dài. Vậy Pepsi phải làm thế nào để trở thành “kẻ đối lập”?. Nếu Pepsi trở thành một bản sao của Coke thì chắc chắn sẽ không ổn. Pepsi cần phải nghiên cứu tình huống này kỹ lưỡng hơn. Coke thường được coi là một nhãn hiệu đã có lịch sử lâu đời (117 năm). Đó là nhãn hiệu mà các bậc cao niên đã sử dụng từ lâu. Do đó Pepsi trở thành thứ cola cho giới trẻ với khẩu hiệu “thế hệ Pepsi”. Chiến lược này đang rất thành công. Qua nhiều năm, “thế hệ Pepsi” đã trở thành một chiến lược quảng cáo duy nhất có hiệu quả trong việc cạnh tranh giữa các nhãn hiệu “follower” (người tiếp bước) và nhãn hiệu “market leader” (người lãnh đạo thị trường).

Thực tế cho thấy chiến lược “kẻ đối lập” có thể được áp dụng cho rất nhiều nhãn hiệu trong những ngành kinh doanh khác nhau. Chẳng hạn làm thế nào mà tập đoàn bán lẻ Lowe’s sinh sau đẻ muộn lại có thể đi những bước dài để đuổi gần kịp nhãn hiệu thống trị thị trường là Home Depot?

Home Depot là tập đoàn bán lẻ các sản phẩm trang trí và cải tạo nhà cửa lâu đời. Tuy nhiên theo truyền thống thì thiết kế điểm bán của Home Depot trông khá lộn xộn, do đó lúc đầu cách thiết kế như vậy có hấp dẫn lớn hơn với nam giới. Vì thế, Lowe’s đã cố gắng để làm khác biệt chính mình. Hãng tỏ ra gọn gàng và sạch sẽ hơn với các đường đi lối lại rộng rãi và hệ thống ánh sáng rõ ràng hơn, chú trọng đặc biệt đến khách hàng nữ. Kết quả là Lowe’s nhanh chóng trở thành nơi đặc biệt hấp dẫn đối với phụ nữ và phát triển rất nhanh thành chuỗi siêu thị bán sản phẩm trang trí và cải tạo vào bậc nhất.

Kẻ trung gian dễ thất bại

Wal-Mart là tập đoàn siêu thị lớn nhất thế giới với giá bán mọi sản phẩm cực thấp và khách hàng cũng thuộc tầng lớp có thu nhập thấp hơn một chút. Vì thế tập đoàn siêu thị Target ra đời đã định hướng vào nhóm khách hàng cao cấp và tập trung vào các sản phẩm được thiết kế đẹp, sử dụng khẩu hiệu “vừa rẻ, vừa thời thượng”. Mắc kẹt trong thị trường này là một tập đoàn siêu thị khác, Kmart, một tập đoàn lớn nhưng ít lâu sau thì bị phá sản. Trước tiên Kmart bắt chước Wal-mart bằng cách giảm giá, nhưng chiến lược này không thành công. Thế rồi Kmart lại đuổi theo Target bằng cách hợp đồng với các nhà thiết kế nổi tiếng. Cả hai chiến lược đều thất bại bởi vì chiến lược chính mà Kmart muốn sử dụng là cạnh tranh để “tốt hơn” Wal-mart hay Target chứ không phải là “kẻ đối lập”.

Hãng máy tính Dell trở thành tập đoàn chiếm thị phần số 1 thế giới về máy tính cá nhân bằng cách lựa chọn kênh phân phối trực tiếp hoàn toàn đối lập với chiến lược sử dụng nhà phân phối và các tiệm bán lẻ mà các đối thủ cạnh tranh lớn của Dell sử dụng bấy lâu nay.

Burger King cố gắng trở thành “kẻ đối lập” của McDonald nhưng đã không thành công. Tại sao? McDonald là nơi dành cho giới trẻ, đặc biệt là cho trẻ em từ 2-6 tuổi. Thế nhưng Burger King đã sử dụng chiến lược tương tự như Kmart để trở thành kẻ “tốt hơn” người lãnh đạo thị trường này là McDonald. Kết quả là nhiều CEO của Burger King liên tục ra đi vì không đưa tập đoàn này thoát khỏi suy thoái.

Từ những điển hình cho chiến lược marketing này, các nhà phân tích khuyên rằng nếu nhãn hiệu của bạn không phải là nhãn hiệu số 1 trong thị trường và nhãn hiệu này cũng không phải là đối lập với nhãn hiệu số 1 thì bạn hãy cẩn thận.

Nguồn: kienthuctaichinh.com sưu tầm và tổng hợp

Nhãn: , ,

Cách để nhân viên làm đúng theo ý muốn!

 
Để đạt được trình độ cao trong nghệ thuật “khiến” người khác làm đúng ý của mình, hay nói ngắn gọn hơn là “giao việc”, thì các nhà quản lý cần phải thực hiện những “chiêu” nào?

Nếu bạn là “sếp”, hãy biết rằng khả năng giao tiếp tốt là một yêu cầu tối cần thiết để có thể truyền đạt thông điệp của mình cho nhân viên hiểu và hành động theo ý mình muốn. Và để có được kỹ năng này, cần có sự đầu tư về mặt thời gian để tìm ra một phương pháp phù hợp và rèn luyện nó trở thành thói quen.

1. Làm rõ mục tiêu công việc:

Mục tiêu công việc sẽ rõ ràng nếu bạn chuẩn bị đầy đủ các thông tin trả lời liên quan đến 4 chữ W (trong tiếng Anh) trước khi giao việc: - What: nêu cụ thể công việc bạn yêu cầu là gì việc gì? - Who: ai là người liên quan với nhân viên của bạn để thực hiện công việc được giao, hay ai là người nhận kết quả công việc được giao? - When: bạn muốn công việc hoàn tất khi nào? - Where: địa điểm công việc được thực hiện là ở đâu?

2. Đưa ra lý do thực hiện công việc (chữ W thứ 5: Why)

Đây là bước rất quan trọng nhằm giúp nhân viên hiểu rõ mục đích cuối cùng của công việc. Nhờ vậy, khi gặp trở ngại trong lúc thực hiện công việc, họ sẽ cố gắng xoay xở để thực hiện bằng được công việc, nhất là khi không có bạn bên cạnh.

3. Hướng dẫn - minh họa (nếu cần)

Thường thì bước này cần thiết đối với công việc liên quan đến máy móc, dụng cụ. Đối với các công việc khác, thì tùy theo mức độ thạo việc của nhân viên mà bạn linh động thực hiện hay không thực hiện bước này. Những nhân viên thạo việc thường thích được tự quyết định cách thức thực hiện công việc để khả năng tư duy của họ được phát triển.

Trong trường hợp này, nếu bạn là người cẩn thận hoặc vì mức độ tối quan trọng của công việc, bạn có thể dò lại bằng cách hỏi: “Em định thực hiện công việc này như thế nào?” để đảm bảo rằng cách thực hiện của nhân viên không ảnh hưởng đến uy tín của công ty.

4. Yêu cầu lặp lại hướng dẫn


Đây là một cách giúp bạn kiểm chứng xem cấp dưới đã nắm bắt được công việc hay chưa, cũng là cách giúp bạn rà soát lại chính mình xem mình còn sót thông tin nào quan trọng nữa hay không. Bạn đừng quên khuyến khích cho nhân viên đặt câu hỏi, và lắng nghe họ trình bày những khó khăn, trở ngại mà họ dự đoán, giúp họ đưa ra những hướng giải quyết khả thi.

Công việc này tuy “tốn ít calo”, nhưng hiệu quả của nó nhiều khi làm chính bạn ngạc nhiên đấy: bạn sẽ phát hiện ra tài năng ở nhân viên, trong mắt nhân viên bạn là người quản lý dễ gần và biết chia sẻ, và điều quan trọng là đảm bảo khả năng thành công của công việc bạn giao.

5. Theo dõi thực hiện

Dân gian thường nói: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Bạn nên thường xuyên thăm dò quá trình thực hiện công việc xem có những trở ngại phát sinh hay không. Nếu có, bạn hãy điều chỉnh yêu cầu công việc sao cho phù hợp với thực tế. Đừng đợi đến giờ chót mới kiểm tra thì có thể quá muộn đấy!

6. Phản hồi

Bạn có phải là kiểu người quản lý “nhân viên làm tốt thì lặng yên, còn có chuyện rắc rối mới làm rùm beng” không? Nếu không, thì xin chúc mừng bạn, vì nhân viên của bạn chắc chắn sẽ không ngại cống hiến nếu có được người quản lý biết phản hồi kết quả thực hiện công việc một cách hợp lý.

Đừng tiết kiệm lời khen nhân viên trước tập thể! Những việc nhỏ như cái vỗ vai, cái bắt tay kèm với một nụ cười nếu nhân viên làm tốt là một trong những động lực quý giá giúp cho nhân viên gắn bó với doanh nghiệp. Đừng chỉ trích một cách thái quá nếu nhân viên phạm sai lầm, vì như thế lần sau nhân viên sẽ ngại việc khó. Điều quan trọng là hãy cho nhân viên thấy bạn muốn biến sai lầm của họ thành cơ hội học hỏi.

Có đến hàng trăm lý do để các nhà quản lý biện minh cho việc không chuẩn bị kỹ càng khi hướng dẫn công việc cho nhân viên. Chẳng hạn như: không có thời gian; nhân viên đông quá; cấp dưới phải có nhiệm vụ hiểu ý cấp trên, v.v và v.v... Họ thường có thói quen “nhớ đâu chỉ đó”.

Nếu ngẫm nghĩ lại, thời gian đầu tư vào việc hướng dẫn chắc chắn sẽ ít “tốn kém” hơn thời gian đi giải quyết sự cố từ những sơ suất “sai một li, đi một dặm” của nhân viên đấy!

Nguồn: kienthuctaichinh.com sưu tầm và tổng hợp

Nhãn: , ,

Ý nghĩa của đòn bẩy hoạt động trong doanh nghiệp!

 
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần, dòng tiền tự do và tỷ số giá trên thu nhập là các phương pháp sử dụng thường gặp để đánh giá hoạt động của một công ty cũng như mức độ rủi ro của nó. Một phương pháp đo lường khác không mấy nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư đó là đòn bẩy hoạt động, thể hiện mối liên hệ giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi của công ty.

Trong những thời gian tốt, đòn bẩy hoạt động có thể giúp công ty gia tăng tốc độ tăng trưởng lợi nhuận. Nhưng trong những khoảng thời gian xấu, nó lại có thể tạo ra một sự sụp giảm lợi nhuận nhanh hơn. Như vậy đòn bẩy kinh doanh của công ty biến động cũng có thể nói cho biết rất nhiều về triển vọng của công ty đó.

Vậy đòn bẩy kinh doanh là gì?

leverage3.jpgĐịnh nghĩa theo cách phổ biến nhất, ngắn gọn nhất thì đòn bẩy kinh doanh là sự phân tích mối quan hệ giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi. Đòn bẩy kinh doanh cao nhất khi công ty có tỷ lệ chi phí hoạt động cố định so với chi phí hoạt động biến đổi cao. Điều này có nghĩa là công ty đang sử dụng nhiều tài sản cố định hơn trong hoạt động của mình. Ngược lại, đòn bẩy kinh doanh thấp nhất khi công ty có tỷ lệ chi phí hoạt động cố định so với chi phí hoạt động biến đổi là thấp.

Một tỷ lệ đòn bẩy kinh doanh cao có thể tạo ra được một lợi ích rất lớn cho các công ty. Tỷ lệ đòn bẩy kinh doanh cao có thể giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều tiền hơn từ mỗi doanh số tăng thêm( doanh số biên tế) nếu việc bán 1 sản phẩm tăng thêm đó không làm gia tăng chi phí sản xuất. Doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng làm được điều này nếu như nó có thể lựa chọn, tài sản cố định như tài sản, nhà xưởng và trang thiết bị cũng như số công nhân hiện hữu. Tức là nó có thể tạo ra được tất cả sự tăng thêm này mà không cần sử dụng bất cứ một chi phí tăng thêm nào. Vì hầu hết các chi phí đã là chi phí cố định. Do vậy, lợi nhuận biên tế được tăng lên và thu nhập cũng tăng nhanh hơn.

Cách tốt nhất để giải thích về đòn bẩy hoạt động là chúng ta đi xem xét các ví dụ. Lấy ví dụ như, một nhà sản xuất phần mềm như Microsoft. Phần lớn chi phí trong cấu trúc chi phí của công ty này là chi phí cố định và được giới hạn để phục vụ cho việc phát triển và chi phí marketing. Dù nó bán một hay 10 triệu bản copy phần mềm Windows phiên bản mới nhất thì về cơ bản chi phí của Microsoft vẫn không đổi. Vì vậy, một khi công ty bán được số lượng phần mềm đủ để bù đắp chi phí cố định, cứ mỗi đô la tăng thêm trong doanh số bán hàng gần như sẽ được chuyển hết thành lợi nhuận biên tế. Có thể nói Microsoft đã sử dụng một đòn bẩy kinh doanh cao ấn tượng.

Ngược lại, một doanh nghiệp bán lẻ, ví dụ như Wal- Mart. Doanh nghiệp này có mức độ đòn bẩy kinh doanh thấp. Công ty đã sử dụng chi phí cố định thấp ở mức vừa phải trong khi chi phí biến đổi của nó lại rất lớn. Hàng hóa tồn kho để bán được xem là chi phí lớn nhất của Wal- Mart. Với mỗi doanh thu sản phẩm mà Wal-Mart bán được, nó phải trả cho nhà cung cấp sản phẩm đó 1 phần khá lớn gọi là giá vốn hàng bán. Kết quả là, giá vốn hàng bán tiếp tục tăng lên khi doanh thu bán hàng tăng lên.

Rủi ro kinh doanh

Đòn bẩy hoạt động của một doanh nghiệp có thể nói cho nhà đầu tư biết nhiều điều về doanh nghiệp risk.jpgđó cũng như hồ sơ rủi ro của nó. Mặc dù đòn bẩy hoạt động cao có thể tạo thêm lợi ích cho công ty. Các công ty có sử dụng đòn bẩy kinh doanh cao cũng được xem là có khả năng biến động lớn khi nền kinh tế có biến động và cũng chịu ảnh hưởng mạnh theo chu kỳ kinh doanh. Và như đã nói ở trên, trong những khoảng thời gian tốt đẹp, một đòn bẩy hoạt động cao có thể giúp tăng lợi nhuận. Nhưng các công ty có các chi phí “cột chặt" trong máy móc, nhà xưởng, nhà đất và hệ thống kênh phân phối sẽ không thể dễ dàng cắt giảm chi phí khi muốn điểu chỉnh theo sự thay đổi trong lượng cầu. Vì vậy, nếu nền kinh tế có sự sụt giảm mạnh, thu nhập có thể “rơi tự do”. Đây là một rủi ro kinh doanh rất đáng để nhà đầu tư lưu tâm.

Hãy xem xét công ty phát triển phần mềm Inktomi. Trong suốt những năm 1990, tức là thời điểm ban đầu của việc kinh doanh phần mềm, nhà đầu tư đã vô cùng kinh ngạc trước doanh thu cũng như lợi nhuận của nó. Công ty chi 10 triệu đô la cho việc phát triển mỗi kênh phân phối kỹ thuật số và các chương trình phần mềm chứa bộ nhớ kỹ thuật số. Với sự phát triển của Internet, phần mềm của Inkitomi đã có thể được phân phối đến với người tiêu dùng mà gần như là không tốn chi phí. Nói cách khác, công ty đã tiến gần đến với chi phí bán hàng bằng 0. Sau khi chi phí phát triển cố định đã được thu hồi đầy đủ, mối doanh số bán tăng thêm, công ty gần như được hường trọn thành lợi nhuận. Thế mà, chỉ sau cuộc khủng hoảng trong thị trường công nghệ dotcom năm 2000, Inktomi đã lâm vào tình trạng tệ hại, lúc này đòn bẩy kinh doanh đã cho thấy "mặt tối" của nó. Vì doanh số đã rớt xuống thê thảm, lợi nhuận cũng nhanh chóng rớt theo đến mức khiến người ta choáng, trong quý 1 năm 2001, Inktomi lỗ 58 triệu đô la, trong khi quý 1 năm 2000, lợi nhuận của công ty đang là 1 triệu đô la. Qủa là sự sụt giảm nhanh đến chóng mặt.

Mức độ đòn bẩy kinh danh cao sẽ phải liên quan đến việc tính toán doanh số để bù đắp chi phí cố định mà công ty đã sử dụng và để bù đắp vị thế rủi ro của các cổ đông. Một tỷ lệ đòn bẩy kinh doanh cao trong suốt thời kỳ suy thoái của nền kinh tế có thể trở thành gót chân Asin, tạo áp lực lên lợi nhuận biên tế và do vậy lợi nhuận bị thu nhỏ lại là điều không thể tránh khỏi.

Thật sự thì các công ty như Inktomi, với đòn bẩy kinh doanh cao, sẽ có sự biến động lớn hơn trong lợi nhuận hoạt động và giá cổ phần của nó. Kết quả là, nhà đầu tư cần xem xét các công ty một cách cẩn thận với các công ty như vậy.

Đo lường mức độ đòn bẩy kinh doanh

leverage.gifKhi một công ty sử dụng nhiều chi phí cố định thì phần trăm thay đổi trong lợi nhuận liên quan đến sự thay đổi trong doanh số sẽ lớn hơn phần trăm thay đổi trong doanh số. Với chi phí hoạt động cố định lớn, một 1% thay đổi trong doanh số sẽ tạo ra một sự thay đổi lớn hơn 1% trong lợi nhuận hoạt động.

Thước đo của hiệu ứng đòn bẩy được đề cập trong tỷ lện DOL. Tỷ lệ này chỉ ra mức độ phản ứng của lợi nhuận khi doanh số thay đổi. Nói rõ hơn, DOL là phần trăm thay đổi trong thu nhập ( EBIT) chia cho phần trăm thay đổi trong doanh số sản lượng bán hàng.

DOL được xác định bằng công thức sau:

DOL= Qx(P-V) / (Qx(P-V) -F)

Trong đó:

Q= số lượng hàng hóa được sản xuất( đối với DN sản xuất) hoặc được bán( đối với DN thương mại)

V= Chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị sản phẩm

P= Giá bán hàng hóa

F= Chi phí hoạt động cố định

Để hiểu rõ hơn, ví dụ như công ty phần mềm, vừa mới đầu tư 10 triệu đô la vào việc phát triển và marketing cho chương trình ứng dụng mới nhất của nó, dự định bán 45 đô la một bản copy. Công ty phải chi phí 5 đô la để bán mỗi bán copy này. Sự thay đổi trong doanh số khi đạt đến 1 triệu bản copy như sau. Tính toán DOL, ta được:

Q = 1.000.000 bản copies
V = $5
P =$45
F= $10.000.000
DOL = 1.000.000x ($45-$5) / (1.000.000 x($45-$5) - $10.000.000)
DOL =1.33

Như vậy, công ty phần mềm này có DOL là 1.33. Nói cách khác, cứ mỗi 25% thay đổi trong doanh số sẽ tạo ra 1.33 x 25% =33% thay đổi trong lợi nhuận hoạt động.

Không may, trừ khi bạn là người trong nội bộ, bằng không sẽ rất khó khăn để bạn có được các thông tin cần thiết để đo lường DOL của công ty. Tuy nhiên thay vào đó, bạn hãy xem xét chi phí cố định và chi phí biến đổi, những yếu tố đầu vào then chốt đối với đòn bẩy kinh doanh. Sẽ rất ngạc nhiên nếu công ty không có các thông tin về cấu trúc chi phí, nhưng bạn cũng phải biết rằng các công ty không bị đòi hỏi phải công khai những thông tin như thế trong các bản báo cáo phát hành ra công chúng.

Nhà đầu tư có thể tự tính DOL ước lượng bằng cách lấy sự thay đổi trong lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp chia cho sự thay đổi trong doanh số bán hàng.

DOL = (Thay đổi trong EBIT) / ( Thay đổi trong doanh số bán hàng)

Dựa vào bản cáo cáo thu nhập, nhà đầu tư có thể tính toán được sự thay đổi trong lợi nhuận hoạt động và doanh số bán hàng. Lấy sự thay đổi trong EBIT chia cho sự thay đổi trong doanh số bán hàng để dự đoán giá trị của DOL. Điều này có thể giúp nhà đầu tư dự doán được lợi nhuận thông qua một loạt các viễn cảnh tương lai.

Kết luận

Nhà đầu tư hãy thật cẩn thận khi sử dụng phương pháp tính này. Chúng có thể dẫn bạn đi lạc đường leverage.jpgnếu áp dụng một cách cẩu thả. Chúng không phải là thước đo tốt nhất đo lường khả năng tăng trưởng doanh số của một công ty. Các nhà đầu tư khôn ngoan đều hiểu rằng dù một công ty có mở rộng phạm vi thay đổi doanh số nhiều hơn mức cho trước cũng không có nghĩa là hợp đồng phụ cho bên thứ ba hay đầu tư tài chính nhiều hơn đã làm gia tăng chi phí cố định và sau đó là gia tăng đòn bẩy hoạt động. Tại cùng một thời điểm, giá của công ty, bao gồm giá thành và chi phí hàng tồn kho, nguyên vật liệu thô đểu được dùng và chúng đều có thể thay đổi. Do vậy nếu không có sự hiểu biết công ty như những người làm việc bên trong nó, thật khó để nhà đầu tư tính toán được một DOL đáng tin cậy.

Tuy nhiên, vẫn rất đáng để nhà đầu tư ước lượng mức độ đòn bẩy kinh doanh của công ty thông qua thay đổi trong EBIT và doanh số. Nó không chính xác 100% nhưng thông qua đó, DOL của công ty cũng có thể giúp chúng ta có được một hình dung khá rõ về mức độ rủi ro hoạt động của nó.

Bạn cần phải cẩn thận khi xem xét yếu tố đòn bẩy kinh doanh, nó có thể cho nhà đầu tư biết rất nhiều về công ty và khả năng sinh lợi trong tương lai cũng như có thể có được cái nhìn sơ bộ về tình hình hoạt động và mức độ rủi ro mà công ty sẽ đối mặt khi điều kiện thị trường thay đổi. Mặc dù đòn bẩy kinh doanh không phải là tất cả câu chuyện thì nó vẫn phần nào giúp ích được cho nhà đầu tư, vấn đáng để nhà đầu tư chú ý.

saga.vn

Nguồn: kienthuctaichinh.com sưu tầm và tổng hợp

Nhãn: , ,

Nghệ thuật quản trị kinh doanh !

 
Nghệ thuật kinh doanh (còn gọi là là kinh doanh hoặc thủ đoạn kinh doanh). Là việc xem xét động tĩnh công việc kinh doanh (thị trờng khách hàng, đối thủ cạnh tranh, xu thế biến động của môi trường lớn, tình hình xu thế chuyển biến của nôi bộ doanh nghiệp) để chế ngự một cách có hiệu quả nhất, thực hiện thành công mọi ý đồ và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.

Nghệ thuật quản trị kinh doanh đựơc tạo lập trên cơ sở của tiềm lực (sức mạnh) tài thao lược kinh doanh (kiến thức thông tin) và yếu tố giữ được bí mật ý đồ (xem sơ đồ 3.10 )



Có nhiều giám đốc hy vọng tìm đựơc toàn bộ nghệ thuật kinh doanh trong sách vở được công bố trên thị trường sách báo, thông tin. Theo chúng tôi đó là một ảo tưởng vì không ai lại tiết lộ nghệ thuật thành công của mình để đối thủ biết mà đối phó khi họ vẫn muốn doanh nghiệp của họ tồn tại và có sức mạnh trên thị trường. Các kiến thức một khi đã được công bố tức là nó đã lạc hậu và khong còn yếu tố bí mật, độc tôn nữa. Hơn thế nữa, công cuộc kinh doanh mỗi nơn mỗi khác, mỗi thời mỗi khác.

Cách tốt nhất để lĩnh hội nghệ thuật kinh doanh là nắm các nguyên tắc cơ bản của nó, kết hợp với quan sát kinh nghiệp của các giám đốc khác rồi vận dụng vào thực tế của doanh nghiệp mới hy vọng đem lại kết quả.

a. Tiềm lực

Sức mạnh của doanh nghiệp là một thực lực cơ bản để tạo cơ sở cho nghệ thuật kinh doanh. Đó là sự trường vốn, đó là sức mạnh của khoa học kỹ thuật và công nghệ mớ, đó là khả năng nắm bắt đựơc thông tin nhanh hơn, sớm hơn và chính xác hơn các đối thủ khác. đó là động thời cũng là sức hút các chất xám từ nơi khác về với doanh nghiệp.

b. Kiến thức thông tin

Là khả năng nhận biất đựoc các quy luật diễn ra trên mọi mặt của các hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể là:

- Phải biết tạo thời cơ, nắm đựơc thời cơ, nắm được thời cơ đúng như hàng loạt các câu danh ngôn cổ đã nói.

+ Thiên thời địa lợi nhân hoà ( thời là chữ đầu tiên )
+ Gặp thời một tốt cũng thành công.
+ Thánh nhân đãi khù khờ.
- Biết thêm bạn bớt thù, biết làm ít lợi nhiều:
+ Giải quyết vấn đề nhanh chóng.
+ Nắm chắc nguyện vọng và khả năng của thị trường.
+ Giảm rủi ro kinh doanh tới mức tối đa.
+ Không đưa đến sự cạnh tranh của các đối thủ mới.

- Chuẩn bị chu đáo
- Chiến đấu với một phương pháp khoa học.
- Độc chiếm thị trường là mục tiêu tối đa.
- Kinh doanh là cạnh tranh, là lao tâm khổ tứ.
- Bí mật trong kinh doanh, trong ý đồ, trong giá cả, trong phương hướng thị trường, trong công nghệ kỹ thuật.
- Việc của một người, không tiết lộ cho hai người, việc làm ngày mai không tiết lộ hôm nay.
- Tam nhân bất cơ mật, tam nhập bất cơ binh.

CÔNG CỤ, PHƯƠNG TIỆN CỦA NGHỆ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH

1. Man thiên quá hải (lợi dụng đêm tối để vượt biển)
2. Không thành kế (mở cửa thành để giữ thành)
3. Tửu kế
4. Tẩu kế
5. Vô trung sinh hữu (không có mà thành có)
6. Nhân kế
7. Kinh tế kế

Đó là các kế sách, các mưu kế để tạo ra cái mạnh tuỵệt đối trên cả ba mặt: tiềm lực, kiến thức, thông tin và việc giữ bí mật trong kinh doanh.
Về điểm này có thể khai thác kho tàng mưu kế của cả xưa và nay trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Dưới đây chúng ta thử xem xét một vài trong số hàng trăm mưu kế mà con người thường dùng.

1. Man thiên quá hải (lợi dụng đêm tối để vượt biển)

Trong lúc môi trường kinh doanh lộn xộn, phức tạp ai cũng muốn có cơ chế quản lý ổn định để rồi mới làm việc thì xí nghiệp phải nhanh chóng xác định đúng hướng thị trường, lặng lẽ kiên trì thực hiện tạo ra kết quả, vượt qua khó khăn.

2. Không thành kế (mở cửa thành để giữ thành)

Nước Nhật thời Minh trị Thiên Hoàng cùng thưồi với Tự Đức nước ta, chủ trương mở cửa đồng thời cho hàng loạt các nước phương Tây vào Nhật nhằm thu hút vốn, tạo việc làm, ăn cắp kỹ thuật và giữ được đất nước. Việt thuê mướn chuyên gia cũng vậy, không nên thuê mướn tuần tự hết nước này đến nước khác; mà nên thuê một lúc một số chuyên gia của một số nước để tránh sự bắt bí của một nước.

3. Tửu kế

Dùng miếng ăn, đãi ngộ kinh tế để khai thác đối phương. Xí nghiệp gia công mũ giầycho nước X, theo dự kiến của Sở công nghiệp tỉnh HP phải cố ký hợp đồng với mức 1,2 USD một đôi, khi nước X cử ba nhân viên sang thương thuyết xí nghiệp không sao nắm được ý định của họ. Sau do tình cờ chiêu đãi khách, các nhân viên của nước X quá say và bộ lộ dự kiến đi ký với mức 1,7 USD 1 đôi mũ giầy. Cuối cùng để đảm bảo lợi ích của cả đôi bên xí nghiệp đã ký gia công mỗi đôi là 1,5 USD v.v...

4. Tẩu kế

Lượng sức không thể cạnh tranh được với các đối thủ khác trên thị trường, tốt nhất là ngừng sản xuất cạnh tranh đó, chuyển sang một sản phẩm mới mà các đối thủ khác chưa có ý định đề cập tới.

5. Vô trung sinh hữu (không có mà thành có)

Đó là cách nương tựa, sử dụng thế và lực của đối phương, tạo vốn từ tay không. Hai công ty A (bán đồng hồ) và B (sản xuất xà phòng) đều ế ẩm không bán được hàng, dù đồng hồ đã hạ tới mức thấp nhất 260.000đ/chiéc và xà phòng đã bán tới mức lỗ vốn 2.300đ/kg những vẫn không bán được. Cửa hàng C đã tiến hành mua chịu của A và B để bán sản phẩm tho kiếu lô tô xổ số 2.800đ một hộp xà phòng trong đó cứ 1000 hộp có 1 hộp trong đó có thêm một đồng hồ 250.000đ ở bên trong. C đã không mất vốn, lại gỡ cho cả A và B đồng thời thu lãi mỗi lô 1000 hộp xà phòng bột một số lời là (2.800đ - 2.300đ) 1.000 - 250.000 = 250.000đ.

6. Nhân kế

Thời xưa quen gọi dưới tên "mỹ nhân kế", sử dụng gái đẹp để mê hoặc, gả bán cho chuyên gia của nước ngoài hoặc của xí nghiệp đối phương để khai thác bí quyết công nghệ (Know-how) mà xí nghiệp thua kém.

7. Kinh tế kế

Đó là việc sử dụng các lợi ích kinh tế để đánh vào lòng tham ích kỷ của con người (ví dụ, một chuyên gia nước ngoài giỏi về một lĩnh vực nào đó mà doanh nghiệp cần nắm bí mật), qua đó nắm bắt thông tin mà doanh nghiệp cần. Đây là kế rất thành công trong nền kinh tế thị trường, nhưng nó rất thiếu đức độ cho nên cần thận trọng khi sử dụng v.v...

PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

Phát triển doanh nghiệp: Là sự mở rộng quy mô doanh nghiệp cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức doanh nghiệp. Phát triển doanh nghiệp có 2 mức độ từ thấp lên cao: 1) là tăng trưởng; 2) là phát triển

1) Tăng trưởng: là sự lớn mạnh của doanh nghiệp nhưng ở mức độ thấp, trong đó cơ cấu doanh nghiệp chưa có sự thay đổi lớn như:
- Mở rộng quy mô sản xuất (thêm dây chuyền sản xuất, thêm mạng lưới cung ứng và các điểm bán hàng, tuyển thêm lao động, phát triển thêm một số sản phẩm mới như tính chất công nghệ sản xuất về cơ bản không đổi).
- Thâm nhập vào một số thị trường mới.
- Có vị trí quan trọng trong số các doanh nghiệp cùng ngành hàng ở khu vực và trong nước.

2) Phát triển: là sự lớn mạnh của doanh nghiệp ở mức độ cao, trong đó có sự biến đổi to lớn về cấu trúc doanh nghiệp (về quy mô, về trình độ công nghệ sản xuất, về thị trường cạnh tranh v.v...)
Các hình thức phát triển doanh nghiệp:
• Cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm.
• Mở rộng quy mô sản xuất.
• Mở rộng phạm vi thị trường.
• Tổ chức lại sản xuất theo hướng đưa công nghệ mới (thực hiện yếu tố kinh tế tri thức).
• Mở thêm doanh nghiệp mới.
• Sáp nhập thêm các doanh nghiệp khác để mở rộng quy mô (mua, liên kết).
• Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực.


Nguồn: kienthuctaichinh.com sưu tầm và tổng hợp

Nhãn: , ,

Quản trị công ty - yêu cầu của doanh nghiệp đương đại!

 
Bài viết giới thiệu về Quản trị công ty (QTCT) cũng như quan điểm tiếp cận vấn đề này, từ đó phân tích ý nghĩa và tầm quan trọng của QTCT đối với doanh nghiệp và nền kinh tế. Phân tích cho thấy việc xây dựng và phát triển hệ thống QTCT tại Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập là cần thiết và cấp bách. Dựa trên những tiền đề hiện có và đặc thù của nền kinh tế, chúng ta có thể triển khai các nghiên cứu cụ thể ở từng khía cạnh của QTCT tại Việt Nam. Những nghiên cứu này cũng góp phần hoàn thiện các định chế quản trị trong nước cũng như đóng góp vào kho tri thức của thế giới.

1. Giới thiệu

Trong 10 năm qua, kinh tế Việt Nam duy trì tăng trưởng với tốc độ cao. Với vai trò là thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) từ đầu năm 2007, chúng ta càng phải thúc đẩy việc cải tổ và phát triển kinh tế theo hướng thị trường. Sự phát triển này đòi hỏi sự tập trung nhiều hơn vào hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp. Chính doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ khác nhau để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước và tăng cường chất lượng cuộc sống. Hơn thế nữa, kinh tế tăng trưởng cũng thay đổi cách phân bổ quyền kiểm soát nguồn lực của nền kinh tế. Đặc biệt là quá trình cổ phần hoá và cải tổ hệ thống đã làm biến đổi cách các doanh nghiệp kiểm soát tài nguyên kinh tế và vận hành. Những thay đổi này thể hiện ở hình thức sở hữu, cơ cấu đầu tư, chính sách quản trị hành chính và nhân sự.

Quá trình cổ phần hóa và sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua bộc lộ nhiều vấn đề liên quan đến QTCT. Báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank, 2006) về QTCT tại Việt Nam cho thấy chúng ta chưa tuân thủ các nguyên tắc QTCT của thế giới, còn nhiều lỗ hổng từ khuôn khổ pháp lý cho đến cách vận hành của doanh nghiệp. Báo cáo của Chương Trình Phát Triển Mê Kông về tình hình QTCT tại các doanh nghiệp Việt Nam (MPDF, 2006) cho thấy có nhiều vấn đề nghiêm trọng trong QTCT tại Việt Nam. Sự khác biệt giữa tuân thủ luật pháp và thực thi trong thực tế, hệ thống kiểm soát nội bộ yếu, các chính sách bảo vệ cổ đông nhỏ chưa rõ ràng, thiếu cơ chế công bố thông tin minh bạch. Đặc biệt là thiếu nhiều khuôn khổ luật pháp để hướng dẫn và kiểm soát cũng như vấn đề cơ chế thực thi luật pháp và quyền sở hữu (những nghiên cứu này thực hiện trước khi Luật Doanh Nghiệp và Luật Chứng Khoán có hiệu lực). Ngoài ra, các dịch vụ quan trọng như kế toán, kiểm toán, ngân hàng và hệ thống luật pháp vẫn còn nhiều hạn chế để có thể hoà nhập với môi trường mới (ADB, 2007).

Báo chí gần đây đăng nhiều vấn đề của thị trường chứng khoán với những tiêu đề lớn như giao dịch nội gián, công ty niêm yết chưa hiểu rõ về công bố thông tin, phương án phát hành cổ phần của các công ty niêm yết, hạn chế tín dụng đầu tư chứng khoán v.v. Những thông tin này khiến nhiều nhà đầu tư phân vân và đã gây ra tranh cãi. Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, các nhà đầu tư bên ngoài khó có thể thẩm định cơ hội đầu tư của mình cũng như những hành động của người bên trong. Cần có những công cụ mà xã hội có thể sử dụng để đảm bảo rằng các doanh nghiệp vận hành hiệu quả qua đó các nhà đầu tư và nhà tài trợ có thể hoàn toàn yên tâm đầu nguồn lực và nỗ lực của mình vào doanh nghiệp. Với một hệ thống công bình và minh bạch, QTCT có thể tạo ra những lá chắn cho những hành vi gian lận, đồng thời thu hút niềm tin và nguồn vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài.

Mục tiêu của bài viết là tổng hợp và phân tích vai trò của QTCT đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung. Đặc biệt là vai trò QTCT trong nền kinh tế hội nhập của Việt Nam hiện nay. Các phần 2,3, và 4 sẽ giới thiệu về QTCT, các quan điểm tiếp cận và những thành tựu nghiên cứu từ đó phân tích ý nghĩa và tầm quan trọng của QTCT đối với doanh nghiệp và nền kinh tế hội nhập. Phần 5 và 6 tập trung phân tích khả năng thực hiện cũng như nhu cầu cấp bách cần phải xây dựng hệ thống QTCT tại Việt Nam. Baì viết kết thúc với những câu hỏi đặt ra cho các nhà nghiên cứ có thể tiếp tục triển khai để xây dựng và hoàn thiện QTCT tại Việt Nam.

2. Các quan điểm tiếp cận và định nghĩa

Trước hết, cần phân biệt rõ khái niệm quản trị công ty (Corporate governance) và Quản trị kinh doanh (Business Management).

Quản trị kinh doanh là công tác điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do Ban giám đốc thực hiện. Còn QTCT là quá trình tác động của cổ đông tới hoạt động của toàn công ty nhằm đảm bảo quyền lợi của của mình và xã hội. Rộng hơn, QTCT phát triển đến quyền lợi của những người liên quan (stakeholders) không chỉ là cổ đông mà còn là nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước. Vì thế, theo quy chế QTCT của Bộ Tài Chính mới ban hành vào tháng 3 năm 2007, QTCT được định nghĩa là "hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty"

Về mặt lịch sử, từ thế kỷ 18, vấn đề tách rời sở hữu và quản lý doanh nghiệp đã được Adam Smith ghi nhận trong tác phẩm của mình "các quản trị gia, với vai trò là người quản lý tiền của người khác, không thể kỳ vọng rằng họ sẽ quan tâm đến số tiền này như người chủ thực sự của nó". Doanh nghiệp còn được xem là "nỗ lực nhóm" của những người sở hữu các nguồn lực mà doanh nghiệp cần (Alchian, Demsetz, 1972), nguồn lực có thể là vốn, lao động và tri thức. Vì vậy việc phân bổ sự gánh chịu các chi phí và hưởng thành quả của doanh nghiệp phải công bằng. Hơn nữa, mô hình doanh nghiệp hiện đại là những công ty cổ phần trong đó có rất nhiều cổ đông nhỏ và phân tán, cấu trúc này càng dễ dàng nảy sinh mâu thuẫn giữa người sở hữu và quản lý các nguồn lực (Berle 1933). Những vấn đế này phát sinh chi phí mà Jensen gọi là "chi phí đại diện" và đòi hỏi cần có các hợp đồng giữa người chủ và người đại diện để giải quyết (Jensen 1976,1983). Lý thuyết người đại diện ra đời từ đó. Trong điều kiện thông tin bất cân xứng mối quan hệ này lại càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn.

Theo quan điểm về phát triển kinh tế quốc gia, QTCT được định nghĩa là "cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và xã hội cũng như giữa mục tiêu cá nhân và cộng đồng" (Cadbury report, 1992). Bởi vậy, khuôn khổ QTCT khuyến khích sử dụng hiệu quả tài nguyên đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội khi sử dụng tài nguyên. Theo quan điểm tài chính, Shleifer xem QTCT liên quan đến "cách các nhà cung cấp tài chính đảm bảo có thể thu lợi từ đầu tư của mình" (Shleifer 1997, trang 737). Quan điểm này liên quan đến vấn đề người đại diện giữa những người bên trong và những nhà tài trợ bên ngoài. Mối quan hệ này chịu ảnh hưởng của các yếu tố luật pháp và kinh tế, đặc biệt là tác động của cổ đông lớn (các tổ chức hoặc Nhà nước) đến hiệu quả doanh nghiệp.

Theo quan điểm đạo đức, QTCT được xem là những quy tắc tự nguyện trong hành xử của người quản lý doanh nghiệp cần phải tuân thủ. Những quy tắc này bao gồm kỳ vọng và quy định cụ thể hơn những yêu cầu của pháp luật, của nghề nghiệp và thị trường vốn đã có.

Các quan điểm khác lại xem xét ở đặc tính và cấu trúc của QTCT. QTCT được xem là cơ chế thúc đẩy công bằng, minh bạch và tín nhiệm. Cấu trúc QTCT cụ thể hoá việc phân phối quyền và trách nhiệm của hội đồng quản trị (HĐQT), người quản lý, cổ đông và những người liên quan, trong đó chỉ rõ quy định và quy trình ra quyết định về các vấn đề của doanh nghiệp. (OECD, 2004). Những đặc tính này thể hiện qua các văn bản luật và điều lệ doanh nghiệp. Hơn thế nữa, với cấu trúc sở hữu ngày càng đa dạng nảy sinh thêm vấn đề quan hệ giữa hội đồng quản trị và các cổ đông nhỏ. Những cổ đông có quyền kiểm soát có thể thao túng doanh nghiệp để đạt mục tiêu của mình và gây thiệt hại đến các cổ đông khác. QTCT cũng được xem là phản ứng chiến lược của tổ chức với rủi ro. Cụ thể hơn, QTCT tạo ra cấu trúc để doanh nghiệp xây dựng mục tiêu và cách thức đạt những mục tiêu này, kiểm soát thành quả đồng thời khuyến khích sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả.

Nhiều định nghĩa khác nhau là do quan điểm và hoàn cảnh từng định chế và quốc gia đối diện với vấn đề này. Tuy nhiên, nếu nhìn ở các định nghĩa này, chúng ta thấy có những điểm chung nhất đó là những mối quan hệ quản lý trung thực để tạo ra thành quả bền vững cho doanh nghiệp và xã hội.

3. Những thành tựu nghiên cứu

Có 2 vấn đề lớn trong các công ty đại chúng hiện đại là các cổ đông nhỏ thường quá nhỏ bé và thiếu kiến thức để kiểm soát hoạt động hằng ngày doanh nghiệp. Mặt khác kiểm soát là hàng hoá công cộng, kiểm soát tốn kém chi phí nhưng người hưởng lợi là tất cả vì thế cổ đông nhỏ không có động lực kiểm soát doanh nghiệp (Oliver Hart, 1995). Hart cũng khẳng định kết luận của Jensen (1976) là mặc dù chi phí đại diện có tồn tại trong các doanh nghiệp hiện đại nhưng cổ đông vẫn chấp nhận chi phí này. Do sự tách rời sở hữu và quản lý cũng như thiếu các cơ chế kiểm soát, người quản lý của các công ty đại chúng có thể theo đuổi mục tiêu của mình mà người phải trả giá lại là các cổ đông. Người quản lý đầu tư vào những dự án an toàn cho mình, hưởng thụ cuộc sống bằng chi phí của doanh nghiệp, và tạo ra những rào cản để bảo vệ mình. Tất cả những hành động này không mang lại lợi ích tối ưu cho người chủ thực sự của doanh nghiệp.

Thông qua khảo sát và so sánh các mô hình QTCT của nhiều quốc gia, Shleifer và cộng cự (1997) đặt ra nhiều vấn đề cho các nghiên cứu về QTCT bao gồm vai trò và động lực của người quản lý cấp cao với giá trị của doanh nghiệp, tác động của thể chế và luật pháp, cơ chế sở hữu tập trung và tác động của cổ đông tổ chức. Nghiên cứu về lịch sử QTCT cũng như các đặc tính và những khác biệt giữa các mô hình, Morck (2005) tìm ra những yếu tố tác động đến sự khác biệt của QTCT đó là:

* hệ tư tưởng,
* mô hình gia đình trị,
* vai trò của tập đoàn,
* các vấn đề pháp luật,
* sự phát triển của thị trường tài chính, và chính trị.

Về khía cạnh tài chính và khuôn khổ pháp lý, báo cáo Cadbury (1992) là bản phân tích tổng hợp về QTCT đồng thời nêu lên các khuôn khổ và quy định trong hệ thống báo cáo kế toán, tài chính, kiểm toán, vai trò của HĐQT, và đặc biệt là các "quy tắc hành xử" về QTCT để các doanh nghiệp sử dụng hoàn thiện mình. Ngân Hàng Thế Giới, Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OECD) và các Ngân hàng khu vực đã thành lập các trung tâm và tiến hành nhiều chương trình nghiên cứu về QTCT trong nhiều năm qua. Từ năm 1999, OECD đã đưa ra các nguyên tắc QTCT và dùng để làm chuẩn đánh giá mức độ tuân thủ các tiêu chí này của các quốc gia trong tổ chức. Những nguyên tắc này đã được sửa đổi và bổ sung trong phiên bản mới năm 2004. Ngân Hàng Thế Giới đã dùng những nguyên tắc này để thực hiện các đánh giá tình hình tuân thủ nguyên tắc của các nước để cung cấp thông tin cho nhà đầu tư, năm 2006 đã có một nghiên cứu về QTCT ở Việt Nam.

Khủng hoảng kinh tế Châu Á vào cuối thế kỷ 20 đã đẩy quá trình nghiên cứu về QTCT đi xa hơn. Một trong những bài học từ khủng hoảng là QTCT yếu kém và không hiệu quả có thể tạo ra những khoản nợ lớn cho từng doanh nghiệp nói chung và cho cả xã hội nói riêng. Các nhà kinh tế Thái Lan cho rằng, những sai lầm trong QTCT cũng nguy hiểm giống như những cú sốc kinh tế vĩ mô khác. Họ cũng kết luận rằng khủng hoảng kinh tế Châu Á vừa qua chỉ có thể được giải quyết một cách triệt để và bền vững nếu chính phủ và khối doanh nghiệp cùng bắt tay hợp tác. Cho dù một nền kinh tế mạnh nhưng thiếu các cơ chế kiểm soát minh bạch, quyền lợi của cổ đông cũng như trách nhiệm của các thành viên quản trị không rõ ràng thì có thể dễ dàng sụp đổ nhanh chóng nếu lòng tin của nhà đầu tư mất đi (Charles, 2001, 2003). Những vụ bê bối tài chính ở Hoa Kỳ vào năm 2001 (trường hợp Enron) là đỉnh điểm cho những mối quan ngại của giới nghiên cứu về QTCT.

Tại các nước, các vấn đề liên quan đến QTCT cũng phát sinh từ quá trình cổ phần hoá (tư nhân hoá). Việc tạo ra một cấu trúc quản trị tốt sẽ là cơ sở để quá trình cổ phần hoá thành công. Những quy định không rõ ràng và thiếu minh bạch đã dẫn đến những hành vi cải tổ thiếu nghiêm túc. Không những thế, ngay cả tại các công ty toàn cầu hiện nay, chủ để QTCT được đặt ra như là cơ chế đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Tại Nga, Trung Quốc và các nước Đông Âu, chủ đề cải tổ doanh nghiệp và QTCT được nghiên cứu rất nhiều. Đặc biệt là các nghiên cứu tại Trung Quốc về vai trò của Doanh nghiệp nhà nước và quá trình cổ phần hoá. Nghiên cứu cho thấy thành công của cải tổ doanh nghiệp nhà nước là yếu tố quan trọng để tạo ra tương lai thịnh vượng tại Trung Quốc (Hovey, 2007). Tuy nhiên quá trình này cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề cần giải quyết liên quan đến thất nghiệp và công bằng xã hội. Nghiên cứu này cũng đề nghị quá trình cải tổ DNNN nên đa dạng hoá sở hữu thông qua đấu giá cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược cả trong nước và ngoài nước, các quỹ tương trợ, quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm xã hội (quỹ lương hưu) và các cổ đông nhỏ khác. Khi cổ phần hoá vì, những ưu đãi về nguồn lực đầu vào không còn nữa thì doanh nghiệp mất đi lợi thế quan trọng nhất của mình, liệu là các doanh nghiệp này có thể tiếp tục dựa trên tiền đề này không.

Hiện nay, các nghiên cứu về QTCT tập trung vào các chủ đề như vấn đề người đại diện và vấn đề thao túng của HĐQT, cấu trúc sở hữu, cải tổ doanh nghiệp nhà nước, lương bổng người quản lý, vai trò của HĐQT và quản trị viên độc lập, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư, tương quan QTCT và hiệu quả doanh nghiệp, khuôn khổ pháp lý QTCT, những đặc thù về QTCT tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi v.v.

Chúng ta đã có những động thái mới về vấn đề này, mới đây Bộ tài chính đã ra quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 về việc ban hành Quy chế QTCT áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán. Gần đây nhất là Thông tư 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Điều này cho thấy các vấn đề đã phát sinh và khẳng định sự thừa nhận và cam kết giải quyết các vướng mắc QTCT của Chính phủ. Hiện nay, Luật Doanh Nghiệp và Luật Chứng Khoán là hai cơ sở pháp lý cơ bản nhất, ngoài ra còn có các văn bản dưới luật do các Bộ ngành ban hành.

Ở khía cạnh doanh nghiệp, Điều Lệ và quy chế hoạt động là cơ sở của việc xử lý các vấn đề liên quan. Về hình thức, chúng ta đã có những khuôn khổ cho vấn đề này, tuy nhiên về mặt nội dung và thực thi chưa được rõ ràng. Chính vì thế, trong bản báo cáo đánh giá của Ngân Hàng Thế Giới, chúng ta đều chưa được tuân thủ nguyện tắc của OECD. Hơn nữa, hiện tại, rất ít có các nghiên cứu thực chứng về các chủ đề của QTCT được thực hiện và công bố ở Việt Nam. Các vấn đề chỉ được báo chí nêu và phân tích dưới khía cạnh chủ quan của người làm báo và thiếu các bằng chứng nghiên cứu.

4. Ý nghĩa và tầm quan trọng của quản trị công ty trong nền kinh tế toàn cầu.

Trong thế giới toàn cầu, các doanh nghiệp và các quốc gia có hệ thống QTCT yếu thường sẽ gánh chịu những hậu quả những vụ bê bối tài chính và khủng hoảng (Sullivan, 2003). Các nghiên cứu cho thấy cách mà doanh nghiệp quản lý, thể hiện qua QTCT, quyết định rất lớn đến số phận của từng công ty và cả nền kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá và tự do hoá thị trường tài chính mở ra những thị trường mới báo hiệu những cơ hội lợi nhuận đáng kể. Nhưng nó cũng đưa doanh nghiệp đến những cuộc cạnh tranh khốc liệt và những biến động khôn lường trong thị trường tài chính.

Các doanh nghiệp đều biết rằng để có thể mở rộng hoạt động và cạnh tranh quốc tế, chúng ta cần những nguồn lực khác với cách truyền thống chúng ta tiếp cận. Không thu hút được những nguồn lực phù hợp sẽ đe doạ sự tồn vong của doanh nghiệp và có thể gây hậu quả lan truyền cho cả nền kinh tế. Thiếu vốn (vốn tài chính, vốn nhân lực, vốn tri thức) làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, không tạo ra việc làm và khó có thể đạt được các chỉ tiêu kinh tế xã hội khác từ đó dẫn đến đói nghèo. Nếu doanh nghiệp không thu hút được nguồn lực này sẽ chịu rủi ro trở thành tài sản của tập đoàn đa quốc gia, nguy hiểm hơn là không thể tồn tại trong thị trường cạnh tranh toàn cầu, và toàn bộ nền kinh tế không thể hưởng lợi từ toàn cầu hoá.

Tham nhũng và quản lý yếu kém đã kích hoạt cho các cuộc khủng hoảng tài chính và nó đã tiêu tốn hàng tỷ Dollar của nhà đầu tư cũng như phá hoại năng lực tài chính của doanh nghiệp và nền kinh tế. Các nhà đầu tư trước khi cam kết đầu tư họ yêu cầu những bằng chứng tuân thủ các nguyên tắc kinh doanh minh bạch và giảm thiểu khả năng gây ra tham nhũng hoặc lũng đoạn. Hơn thế nữa, các nhà đầu tư mong muốn có thể phân tích và so sánh các cơ hội đầu tư tiềm năng từ những chuẩn mực chung. Thực vậy, một doanh nghiệp uy tín không chỉ có thể tự tin trước những yêu cầu ngặt nghèo của các nhà đầu tư quốc tế mà còn là điều kiện để tiếp thị quốc tế, đó là nền tảng cho sự phát triển phồn vinh của doanh nghiệp và đất nước.

Nói tóm lại, các nhà đầu tư dù là trong nước hay bên ngoài luôn tìm kiếm các doanh nghiệp có cấu trúc QTCT tốt. QTCT là cơ sở của "luật chơi" trong đó các doanh nghiệp được quản lý nội bộ và được giám sát bởi HĐQT nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tài trợ nguồn lực cho doanh nghiệp. Điều đó thể hiện qua những biểu hiện công khai và minh bạch. Chính phủ cần phải minh bạch và dân chủ để người dân có thể đánh giá liệu là quyền lợi có thực sự được tôn trọng và phục vụ. Doanh nghiệp cũng cần có những cách thức minh bạch và dân chủ để người chủ sở hữu nguồn lực doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định sáng suốt về cơ hội đầu tư của mình.

5. QTCT có thể giúp doanh nghiệp và nền kinh tế không?


Yếu tố quyết định người ta tham gia vào tổ chức thông qua đầu tư nguồn lực và niềm tin là sẽ họ sẽ nhận được những phần thưởng công bằng từ doanh nghiệp. Nếu có sự bất công bằng trong việc phân chia chi phí và lợi ích thì họ sẽ mất niềm tin và không tiếp tục tham gia vào doanh nghiệp. Khi niềm tin mất đi, doanh nghiệp có thể sụp đổ bất cứ lúc nào.

Tại châu Á, các nghiên cứu cho thấy có nhiều điều chưa rõ ràng về công khai minh bạch liên quan đến quan hệ giữa chính phủ và doanh nghiệp, giữa chủ nợ và chủ doanh nghiệp, và các chế tài luật pháp liên quan đến phá sản doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản thân hữu (Sullivan, 2003). Các vấn đề định giá tài sản doanh nghiệp cổ phần hoá, giao dịch nội gián, và những gian lận tại thị trường chứng khoán vừa qua thể hiện những khiếm khuyết trong cơ chế kiểm soát. Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, nhóm người nội bộ dễ dàng có được những lợi thế cho mình nhưng người trả giá lại là các cổ đông nhỏ và xã hội. Các vấn đề này có một điểm chung đó là nó liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế và mối tương quan giữa những nguyên tắc này và cách các doanh nghiệp tổ chức quản lý.

Thực vậy, QTCT giúp doanh nghiệp và nền kinh tế thu hút vốn đầu tư và tăng cường nền tảng cho hoạt động kinh tế và năng lực cạnh tranh dài hạn. Thứ nhất yêu cầu tính minh bạch trong các giao dịch, kế toán và kiểm toán, mua hàng, v.v. sẽ giúp giải quyết vấn đề "cung" của tham nhũng. Tham nhũng làm bòn rút tài nguyên của doanh nghiệp, xói mòn năng lực cạnh tranh và xua đuổi nhà đầu tư. Những yêu cầu minh bạch trên có thể giảm thiểu cơ hội cho tham nhũng phát sinh.

Thứ hai, quy trình QTCT cải thiện vấn đề quản lý của doanh nghiệp bằng cách giúp các quản trị viên và HĐQT xây dựng những chiến lược tốt và đảm bảo các giao dịch mua bán (cả mua bán doanh nghiệp) được thực hiện dựa trên những lý do chính đáng, hệ thống đãi ngộ phản ảnh đúng thành quả công việc, tạo động lực làm việc.

Thứ ba, ngay cả ở những quốc gia mà hoạt động niêm yết và thị trường chứng khoán chưa hoạt động mạnh như Việt Nam, QTCT tốt giúp ngăn ngừa các khủng hoảng hệ thống ngân hàng bằng cách tiếp nhận những chuẩn mực về minh bạch trong các quan hệ với các nhà đầu tư và tổ chức tín dụng. Các quy trình phá sản doanh nghiệp cũng đảm bảo rằng có các phương pháp giải quyết các thất bại của doanh nghiệp cũng công bằng cho những người liên quan, bao gồm nhân viên, chủ doanh nghiệp và các chủ nợ. Nếu không có các quy trình phá sản doanh nghiệp, đặc biệt là hệ thống thực thi thì khó có thể ngăn cản người bên trong thu vén tài sản còn lại cho riêng mình.

Thứ tư, những nghiên cứu mới đây cho thấy các quốc gia có cơ chế QTCT tốt và bảo vệ quyền lợi của cổ đông nhỏ thì cũng có thị trường tài chính lớn mạnh và rất thanh khoản. Ở các nước có hệ thống luật yếu thì doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào một số nhà đầu tư chứ không phân tán. Bởi vậy, nếu muốn thu hút các nhà đầu tư nhỏ cho dù là trong nước hay nước ngoài thì vấn đề QTCT là mối bận tâm nhiều nhất của họ. Những nhà đầu tư này có nguồn vốn đa dạng và mong muốn đầu tư dài hạn. Hơn thế nữa, QTCT tăng tường niềm tin của công chúng vào tính xác thực của quá trình cổ phần hoá, giúp đảm bảo rằng quốc gia sẽ nhận được những điều tốt nhất từ quá trình đầu tư này, từ đó tạo ra việc làm và giúp kinh tế tăng trưởng.

QTCT rõ ràng có lợi cho doanh nghiệp và quốc gia, và quá trình toàn cầu hoá hiện nay lại khiến vấn đề càng trở nên cấp bách. Để làm được điều này cả doanh nghiệp và chính phủ cần có những thay đổi căn bản. Doanh nghiệp cần thay đổi cách vận hành, chính phủ cần phải thiết lập và duy trì khuôn khổ định chế phù hợp. Nếu không có luật lệ và cấu trúc ràng buộc tự nhiên, xáo trộn sẽ xảy ra. Nếu không có những ràng buộc này, các doanh nghiệp trở thành các nhà tư bản trên sòng bài và đầu tư của họ chỉ là những đánh cuộc cho rủi may. Hy vọng rằng người kia sẽ giữ lời hứa, hi vọng rằng doanh nghiệp sẽ nói thật, hi vọng rằng nhân viên sẽ được trả lương đầy đủ, hy vọng rằng chủ nợ sẽ được hoàn trả đều là những ước mơ. Vì thế QTCT hướng đến thiết lập các cấu trúc qua đó cho phép mọi người có thêm tự do trong khuôn khổ của luật pháp. Những thay đổi bao gồm tiếp nhận những chuẩn mực quốc tế về báo cáo tài chính minh bạch, rõ ràng và chính xác thì các nhà đầu tư mới có thể so sánh các cơ hội đầu tư. QTCT tốt giúp giảm rủi ro, giúp thành quả hoạt động tốt hơn, tăng khả năng tiếp cận thị trường vốn, mở rộng tiếp thị trường hàng hoá dịch vụ, cải thiện năng lực lãnh đạo, tính minh bạch và trách nhiệm xã hội. Các thể chế này là cơ sở để thiết lập một thành tố quan trong nhất trong kinh doanh đó là chữ tín.

6. Khởi đầu của một hành trình dài

Cho dù là ở quốc gia nào thì các nhà đầu tư tìm kiếm các cơ hội từ các doanh nghiệp để có thể hưởng lợi trong tương lai. Họ không có thời gian và khả năng để có thể tự mình vận hành doanh nghiệp và đảm bảo mang lại lợi ích từ đầu tư của mình. Họ thuê những chuyên gia quản lý điều hành doanh nghiệp và giải quyết các vấn đề hằng ngày. Điểm hạn chế của mô hình này là người quản lý thường không phải là chủ sở hữu và vì thế họ không gánh chịu những rủi ro mất mát cơ hội đầu tư cũng như lợi nhuận. Những người quản lý này có thể hành động gây thiệt hại cho giá trị đầu tư của cổ đông. Họ không thận trọng trong việc quản lý doanh nghiệp hoặc không mạnh dạn khi thấy mình an toàn hoặc quá liều lĩnh khi có nguy nguy cơ với mình. Họ có thể không làm những việc có lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp mà ngược lại bảo vệ chính mình bằng cách đầu tư vào những ngành vận hành dễ, tham gia vào các hoạt động làm thất thoát tài sản doanh nghiệp và các hoạt động nội gián.

Nhu cầu QTCT ở Việt Nam mở rộng xa hơn không chỉ là vấn đề tách rời sở hữu và quản lý nói trên. Chúng ta còn có vấn đề liên quan đến thiếu các quyền sở hữu, lạm dụng quyền của cổ đông lớn, vi phạm hợp đồng và giao dịch nội bộ. Càng tệ hơn là những hành động này lại chưa được phát hiện và xử phạt đầy đủ. Điều này là bởi vì thiếu các định chế xã hội và kinh tế cần thiết để đảm bảo cho dân chủ và thị trường phát triển.

Trong nghiên cứu mới đây của Ngân Hàng Thế Giới về QTCT ở Việt nam. Một câu hỏi lớn đó là cơ chế thực thi luật pháp. QTCT phụ thuộc vào hệ thống các định chế (luật, quy định, hợp đồng và các chuẩn mực khác) qua đó làm nền tảng cho các doanh nghiệp phát triển trong thị trường cạnh tranh. Những định chế này đảm bảo rằng các quy định về QTCT phải được tuân thủ. Khối tư nhân và nhà nước phải hợp tác để xây dựng những quy tắc ràng buộc lẫn nhau và đồng thời định hướng cách công ty quản lý chính mình. Mặc dù chúng ta đã có Luật Doanh Nghiệp, Luật Chứng Khoán cùng các văn bản dưới luật và hướng dẫn của Bộ Tài chính liên quan đến QTCT, nhưng việc thực thi các văn bản luật này còn phải chờ thời gian trải nghiệm.

Hơn nữa, việc thiết lập QTCT tại các nước đang phát triển như Việt Nam đòi hỏi không chỉ là thu nhập các mô hình QTCT tốt từ các quốc gia phát triển. Quan trọng là chú ý đến thiết lập các định chế kinh tế và xã hội phù hợp cho nhu cầu cụ thể. Chỉ có những định chế được thiết kế và vận hành tốt mới có thể giúp thực thi các hướng dẫn và nguyên tắc QTCT. Nếu không nhận dạng các nguyên tắc và vấn đề QTCT cốt lõi của doanh nghiệp thì các định chế tốt nhất cũng không thể nào đưa ra những lời giải thích hợp. Cho đến thời điểm này, những nghiên cứu thực chứng về QTCT của doanh nghiệp còn rất hạn chế, việc xác định vấn đề còn bỏ ngõ.

Ở Thái Lan, từ sau khủng hoảng kinh tế, Hiệp hội các Nhà Quản Trị đã thực hiện việc "Đánh giá thành tích QTCT của các công ty niêm yết" qua đó công bố thông tin và thưởng cho các công ty có thành tích tốt. Các nghiên cứu này cũng khẳng định rõ sự tương quan giữa QTCT tốt và thành quả doanh nghiệp, giá cổ phiếu trên thị trường cũng như niềm tin của nhà đầu tư. Mặt khác những mô hình QTCT tốt sẽ là kiểu mẫu để cho các doanh nghiệp khác có thể học tập và triển khai.

Thực tế, các doanh nghiệp còn ngại ngùng vì khi thực hiện công việc này vì nghĩ rằng chi phí cao hơn lợi ích mang lại đồng thời tính minh bạch càng gia tăng thì việc kinh doanh ngày càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng hệ thống QTCT tốt sẽ thu hút được nhiều hơn thương mại và đầu tư quốc tế, đồng thời tạo ra cơ chế để hạn chế tham nhũng. Các nhà kinh tế cũng khuyến cáo nên tránh sao chép toàn bộ hệ thống của các quốc gia khác hoặc mời chuyên gia nước ngoài viết các văn bản luật mẫu. Mặc dù các nhà tài trợ vẫn không ngừng tạo áp lực để hoàn tất các công việc này theo cách của họ, việc làm này cần phải xem xét cẩn trọng. Để xây dựng nền kinh tế thị trường đòi hỏi hệ thống chuẩn mực cho phép đổi mới và sáng kiến hơn là định trước những việc mà người ta có thể làm. Vì vậy mà QTCT được xem là cơ chế cho các tổ chức tự điều tiết. Nhưng cần nhấn mạnh rằng kinh tế thị trường không có nghĩa là thiếu vắng sự can thiệp của chính phủ.

7. Kết luận

Tất cả những vấn đề nêu trên đều thể hiện trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam và càng bộc lộ rõ qua quá trình cổ phần hóa và sự phát triển của thị trường chứng khoán gần đây. Khi mà các nguyên tắc căn bản công bằng, tín nhiệm, trách nhiệm, công khai và minh bạch chưa được thực hiện một cách nghiêm túc thì sẽ còn nhiều khoảng trống để xác định và cải tiến. Cần nhận thấy rằng QTCT tốt sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và là tiền đề phát triển kinh tế bền vững.

Ở quan điểm vĩ mô, hệ thống QTCT tốt giúp doanh nghiệp hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu. Chất lượng QTCT tại từng quốc gia ảnh hưởng lớn đến khả năng duy trì năng suất, tăng trưởng và phát triển bền vững trong dài hạn. Ở cấp độ vi mô, mục đích của QTCT là tạo điều kiện thuận lợi và kích thích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bằng cách tạo ra và duy trì động lực của người bên trong doanh nghiệp làm việc hiệu quả cao nhất. QTCT tốt có thể hạn chế người bên trong lạm dụng quyền lực đồng thời là công cụ kiểm soát hành vi quản lý để đảm bảo uy tín của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và xã hội.

Ở Việt Nam, mọi việc đang chỉ mới bắt đầu, cơ hội nghiên cứu về QTCT ở Việt Nam có thể tiếp cận ở hai hướng. Thứ nhất các nghiên cứu có thể tập trung vào xác định các vấn đề liên quan đến thể chế và quy định của luật pháp, bao gồm hoàn thiện các cơ chế luật, các quy định về kế toán, báo cáo, kiểm toán, đây là khuôn khổ chung cho QTCT. Công việc này đang được các cơ quan luật và Bộ Tài Chính thực hiện.

Hướng nghiên cứu thứ hai tập trung vào các doanh nghiệp với các vấn đề hiện tại như cơ chế cải tổ doanh nghiệp nhà nước, chính sách đãi ngộ cho cán bộ quản lý và HĐQT, vai trò quản trị viên độc lập, các mô hình cấu trúc sở hữu và thành quả của doanh nghiệp, các mô hình công ty mẹ con, sáp nhập & mua lại, và các vấn đề QTCT đặc thù tại các công ty đại chúng và niêm yết. Ngoài ra có thể mở rộng nghiên cứu thực chứng trong tương quan về QTCT với thị giá doanh nghiệp, vai trò của các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức, vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài với thành quả doanh nghiệp, và các nguyên tắc hành xử QTCT nói chung ở Việt Nam. Những nghiên cứu này sẽ góp phần hoàn thiện khuôn khổ QTCT tại Việt Nam giúp tăng cường năng lực cạnh tranh toàn cầu cũng như ngăn ngừa những nguy cơ khủng hoảng. Hơn thế nữa, đây sẽ là nền tảng để xây dựng các chuẩn mực quản trị chung không chỉ cho các công ty đại chúng, niêm yết mà các công ty cổ phần khác.

© www.SAGA.vn | Trần Duy Thanh

Nguồn: kienthuctaichinh.com sưu tầm và tổng hợp

Nhãn: , ,

Nguyên tắc giao quyền cho cấp dưới!

 
Nhiều người thắc mắc là chủ doanh nghiệp hay người đứng đầu một đơn vị mà vẫn phải “đầu tắt mặt tối” trong khi không ít người còn đang phải ngồi chờ việc? Để trả lời câu hỏi này, các chuyên gia khuyên, mỗi người nên quản lý quỹ thời gian của mình một cách hợp lý.

Thông thường mỗi ngày, người quản lý thường dành thời gian cho ba loại công việc: công việc do cấp trên trực tiếp chỉ đạo phải làm; công việc của hệ thống, trong đó các phòng ban, đội hay tổ phải phối hợp nhau để thực hiện; công việc cá nhân tự đề xướng thực hiện.

William Oncken, Jr. Và Donald L. Wass trong bài viết "Ai nhận con khỉ?" đã ví công việc giữa các cấp quản lý trong tổ chức giống như con khỉ chuyền cây. Chẳng hạn, trong một công ty, nếu không có những biện pháp ngăn chặn, ''con khỉ'' sẽ chuyền từ các cấp quản lý sang bản thân giám đốc. Để giúp chủ doanh nghiệp tăng thêm khoảng thời gian dành cho mình, ông đưa ra các nguyên tắc sau.

Nguyên tắc l: Bắn chết hay cho ăn. Theo nguyên tắc này, nếu cấp dưới đùn đẩy công việc lên cấp trên, lãnh đạo hãy quyết định hoặc là yêu cầu cấp dưới phải tự giải quyết (bắn chết) hoặc giúp đỡ họ giải quyết vấn đề (cho ăn).

Nguyên tắc 2: Nếu quyết định giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó giúp cho cấp dưới, cần phải xác định một khoảng thời gian cụ thể cho nó.

Nguyên tắc 3: Khi nhận giải quyết vấn đề cho cấp dưới, hãy làm một cuộc hẹn, không tiện đâu làm đó.

Nguyên tắc 4: Hãy giải quyết vấn đề với cấp dưới bằng tiếp xúc trực tiếp hay qua điện thoại, tránh viết văn bản.

Nguyên tắc 5: Đối chiếu vấn đề cần giải quyết với năm cấp độ trao quyền dưới đây và ấn định thời gian dành cho lần sau.

Cấp l: hãy đợi đến khi yêu cầu mới được làm.
Cấp 2: xin chỉ đạo trước khi làm.
Cấp 3: đề xuất ý kiến và chứng tỏ bằng kết quả công việc.
Cấp 4: hãy tiến hành công việc nhưng phải thông báo ngay sau mỗi lần triển khai.
Cấp 5: hãy tự làm và báo cáo đều đặn theo định kỳ.

Phân loại công việc ở trong tổ chức thành năm nhóm như trên, chủ doanh nghiệp sẽ tiết kiệm khá nhiều thời gian bằng cách trao quyền cho cấp dưới thực hiện công việc (từ cấp độ 3 đến 5). Không những thế, nhân viên cấp dưới cũng được chủ động trong giải quyết công việc.

Ở nhiều doanh nghiệp trong nước, các giám đốc, chủ doanh nghiệp khao khát có nhiều thời gian để dành cho bản thân và gia đình, nhưng phần lớn cho rằng quá khó hay quá rủi ro khi trao quyền cho cấp dưới.

Mặt khác, khi trao quyền vẫn còn câu hỏi về khả năng giải quyết công việc và sự sẵn sàng nhận trách nhiệm của cấp dưới. Không ít doanh nghiệp đổ vỡ vì giám đốc trao quyền cho cấp dưới để rồi mất luôn cả quyền kiểm soát công ty, vì cấp dưới làm bậy. Một số doanh nghiệp nhà nước kinh doanh xuất nhập khẩu còn có tình trạng giám đốc không giỏi chuyên môn, ngoại ngữ nên quyền điều hành thực tế nằm trong tay trưởng phòng hay phó giám đốc.

Để có sự thảnh thơi cho bản thân, người quản lý cần dành thời gian để phát triển nhân viên và có chính sách khen thưởng, kỷ luật thích đáng. Stephen R. Covey, giám đốc một công ty chuyên huấn luyện lãnh đạo cho các doanh nghiệp trên thế giới phát hiện rằng, bản thân trưởng các đơn vị nếu thiếu chuyên môn nhưng biết tôn trọng các nguyên tắc đối xử trong cuộc sống và có hành vi lương thiện cũng có thể thành công trong việc trao quyền.

Ngoài ra, theo Covey, trưởng các đơn vị nên chia công việc hằng ngày theo mức độ khẩn trương, quan trọng và cố gắng tạo thói quen dành nhiều thời gian cho những loại công việc này.

Nguồn: kienthuctaichinh.com sưu tầm và tổng hợp

Nhãn: ,

Bài viết mới:

Web kienthuctaichinh.com

Tài chính-Ngân hàng: Finance-Bank

 

 

 

  • Tài chính
  • Ngân hàng
  • Chứng khoán